Viêm gan B

Viêm gan B

Hiện nay thuốc điều trị viêm gan B chia làm 2 nhóm chính, có thể sử dụng điều trị riêng lẻ hay phối hợp. Nhóm 1 là nhóm điều hoà miễn dịch vì chúng tác động lên hệ thống miễn dịch của cơ thể đối với kháng nguyên của HBV trên bề mặt tế bào gan như Interferon (IFN)…

Nhóm thứ 2 được gọi là các thuốc chống virut, có tác dụng ức chế sự nhân lên của virut, ngăn cản hiện tượng nhiễm virut lên các tế bào gan bình thường. Các thuốc này không có ảnh hưởng trực tiếp lên hệ thống điều hoà miễn dịch mà chỉ có ảnh hưởng gián tiếp. 

A.  Interferon

Interferon Hình ảnh minh họa

Interferon là một nhóm các protein tự nhiên được sản xuất bởi các tế bào của hệ thống miễn dịch ở hầu hết các động vật nhằm chống lại các tác nhân ngoại lai như  virus, vi khuẩn, kí sinh trùng và tế bào ung thư. Interferon thuộc một lớp lớn của glycoprotein được biết đến dưới cái tên cytokine (chất hoạt hoá tế bào).

Interferon đóng vai trò quan trọng trong cửa ngõ miễn dịch đầu tiên của cơ thể. Nó là một phần của hệ thống miễn dịch không đặc hiệu  và được kích hoạt bởi giai đoạn đầu của quá trình cảm nhiễm trước khi hệ miễn dịch đặc hiệu (specific immune system) có thời gian để đáp ứng.

  1. Tác dụng kháng virus

Các Interferon này kích hoạt 20-30 protein và nhiều chức năng của chúng vẫn chưa được hiểu biết đầy đủ. Tuy nhiên, có 3 protein đóng vai trò quan trọng trong việc kích hoạt trạng thái kháng virus đã được nghiên cứu rộng rãi

  1. Tác dụng kháng ung thư

Interferon kích thích hệ miễn dịch của cơ thể chống lại khối ung thư. Cơ chế của chúng cho đến nay vẫn chưa được hiểu rõ một cách đầy đủ. Tuy nhiên, nó có thể theo các cơ chế sau:

  • Trì hoãn hoặc dừng sự phân chia của các tế bào ung thư
  • Giảm khả năng tự bảo vệ của các tế bào ung thư đối với hệ miễn dịch của cơ thể.
  • Tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể.

Interferon thường được sử dụng để điều trị một số loại ung thư bao gồm: ung thư thận, u hắc tố ác tính, ung thư xương, ung thư hạch, u lympho bào và bệnh bạch cầu…..

B- Nhóm Nucleoside Analogues

Là chất hóa học tương tự Purine hay pyrimidine, ức chế sự nhân đôi siêu vi B bằng cách gắn kết với men DNA Polymerase. Thuốc rất an toàn , dễ dung nạp và ít hại cho tế bào. Tuy nhiên khả năng làm mất cccDNA thì không bền vững , vì vậy phải duy trì thuốc trong thời gian dài.

  1.  Lamivudin

Lamivudin là 1 thuốc tổng hợp kháng retrovirus, thuộc ức chế enzym phiên mã ngược của virus.. Thuốc có hoạt tính cạnh tranh với deoxycytidin triphosphat tự nhiên để hợp nhất vào DNA của virus bởi enzym phiên mã ngược, gây kết thúc sớm tổng hợp DNA của virus. Lamivudin có độc tính rất thấp đối với tế bào.

Lamivudin có hoạt tính kìm virus HIV typ 1 và 2  và cũng có tác dụng ức chế virus viêm gan B ở người bệnh mạn tính. Tuy được dung nạp tốt, nhưng không được dùng lamivudin đơn độc, vì dễ sinh kháng thuốc

  1.  Adefovir

Adefovir dipivoxil là tiền chất dạng uống của Adefovir, chất đuợc vận chuyển chủ động vào tế bào của động vật có vú, tại đó nó đuợc các men của vật chủ biến đổi thành Adefovir diphosp ức chế polymerase của virus bằng cách cạnh tranh liên kết trực tiếp với chất nền tự nhiên (deoxyadenosine triphosphate) và sau đó sát nhập vào DNA của virus gây kết thúc chuỗi DNA.

Thận trọng cho:phụ nữ có thai, cho con bú, bênh nhân trên 65 tuổi chỉ sử dụng khi thực sự cần thiết và dưới sự hướng dẫn của bác sĩ

  1.  Telbivudine

Những kết quả của một nghiên cứu lâm sàng trên telbivudine cũng đã được công bố gần đây. Trong nghiên cứu tăng dần liều được kiểm chứng với placebo ở liều 25, 50, 100, 200, 400, v 800 mg mỗi ngày trong 4 tuần, Telbivudine đã dung nạp tốt ở tất cả các liều lượng. Hoạt động chống virus liên quan đến liều một cách rõ ràng là hiển nhiên, đặc biệt ở liều 400 mg/ ngày hay cao hơn. ở những cơ thể nhận liều 800 mg/ ngay, việc giảm HBV  được đạt được ở tuần thứ 4.

Telbivudine

Hình ảnh minh họa

  1.   Entecavir

Entecavir là thuốc chống HBV, được FDA cho phép dùng điều trị viêm gan B mạn tính từ đầu tháng 3/2005 cho người lớn.

Tác dụng không mong muốn thường gặp là nhức đầu chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn, mất ngủ với tỷ lệ 1% trong khi với lamivudin là 4%.

Liều lượng cho người từ 16 tuổi trở lên chưa dùng được thuốc loại nucleoside là 0,5mg uống một lần mỗi ngày. Nếu đã dùng hoặc có kháng lamivudin thì uống 1mg x 1 lần/ ngày uống liên tục nhiều năm.

  1.  Tenofovir

Tenofovir

Hình ảnh minh họa

  • Tenofovir là một chất tương tự của adenosine monophosphate, một purine nội sinh đóng một vai trò quan trọng trong nhiều tiến sinh lý học bao gồm sao chép DNA.

Ngoài các thuốc chính thức được khuyến cáo sử dụng trên, nhiều thuốc hiện nay đang được tiếp tục nghiên cứu và thử nghiệm nhằm mục tiêu cao nhất là ức chế virus, phòng ngừa tiến triền của bệnh

Do cơ chế tồn tại dai dẳng của virus ở các tế bào gan bị nhiễm, liệu pháp kháng virus dài hạn là cần thiết ở đa số bệnh nhân. Sự ức chế virus không hoàn toàn và việc xuất hiện sự kháng thuốc là mối quan tâm lớn. Việc lựa chọn đúng một trị liệu mạnh đầu tay để đạt được sự ức chế sao chép virus duy trì dài hạn đem lại cơ hội tốt nhất để phòng ngừa sự thất bại điều trị và kháng thuốc.

Hiện nay ngoài các thuốc Tây Y được sử dụng với một lượng lớn, để có tác dụng ngăn chăn tình trạng nhân lên của virus, phá hủy tế bào Gan. Bệnh nhân nên sử dụng thêm các sản phẩm hỗ trợ có nguồn ngốc từ thảo dược thiến nhiên giúp thanh lọc, giải độc tế bào gan qua đó ổn định tăng cường chức năng gan!

Tiềm hiểu về sản phẩm  Giải Độc Gan An Hưng tại đây :https://baovegan.com.vn/san-pham/

Trả lời